Chú ý các điểm đánh A,B,C..., Tôi sẽ chú thích sau :
A-Cằm hơi rút vào, nhắm mắt lại cũng được nếu chỉ muốn dưỡng sinh, nếu muốn tập cho võ thuật thì mắt hé mở, lưỡi để tự nhiên sẽ chạm phần trên lợi của răng trên, không cong lưỡi để chạm vòm như một số khí công gia khuyến khích. Mắt và cả mặt buông xã.
B-Vai trầm và hơi đưa ra trước thì như vậy ngực hàm hung và buông xã (K). Hơi tách khớp xương tay và vai, khi làm đúng thì
C-Hai cùi chỏ sẽ hướng ra ngoài, một phần thật nhỏ lực sẽ đi theo hình mũi tên vòng cung mà tôi vẽ từ vai xuống bàn tay.
D-Cổ tay hơi có gốc độ, tức bàn tay hơi nâng lên đồng thời cổ tay để một chút lực xoắn như hình cuối.
E-Bàn tay xoè, hổ khẩu mở, ngón tay không căng thẳng nhưng cũng không quá cong. Trong 5 thức bàn tay có chút khác biệt cũng như khi đi bài quyền thái cực, bàn tay tuy mở nhưng không giống nhau cho tất cả các thức.
G-Cạnh ngoài của bàn chân hướng thẳng về phía trước hay hướng vào phía trong cũng được, như vậy thì cạnh trong của chân (H) sẽ hội tụ hình chữ bát.
F-Khi G làm đúng và khoảng cách cạnh ngoài của chân tương đương chiều rộng vai, rùn người xuống và buông xã thì đầu gối có khuynh hướng đi về gần nhau, như vậy 3 kinh dương và 3 kinh chân đều được kích thích.
J-Đối với người tập võ thì rùn sâu một chút và với cấu trúc đó bàn tọa tự động đẩy vào, hậu môn tự động khoá. Đối với người lớn tuổi đứng hơi cao thì bàn tọa nên cố ý đẩy vào.
I-Khi B, C làm đúng thì lưng sẽ tròn bạt bối.
L-Vì tay khuỳnh nên hành giả sẽ thấy cạnh trong cũng như cạnh ngoài cùng với vai tạo thành vòng tròn và với tính chất mở rộng của nó nên cạnh trong của của tay, nách, cạnh thân có khoảng trống như có thể kẹp trái banh (L) vậy.
M-Người không nghiêng ngả, nhìn rất vững chãi, lâu dần tấn sẽ trụ.
Nếu làm đúng cách thì nếu có người vỗ vào lưng, hông, bụng với sức mạnh thì hành giả vẫn cảm thấy thoải mái không đau đớn.
Hành giả phải cố gắng buông xã không gồng cứng. Cũng như thái cực quyền, những tư thế khó buông xã nhưng tập lâu sẽ buông xã được, lúc đó sẽ hiểu được thế nào là nhu mà không nhược, cương mà không cường.
Thức thứ 2: Can kinh
Sau khi đứng thức thứ nhất- thí dụ 5 phút-thì chuyển qua thức thứ nhì. Động tác chuyển thật chậm như đi TCQ.
Khi chuyển, lưng bàn tay hướng vào trong và đối diện nhau, cổ tay hơi vặn căng, đến khi 2 bàn tay ngang vai thì mới xoay tay, hướng lòng bàn tay vào người như ôm trăng, khoảng cách từ 1 nắm tay đến 3 nắm tay tuỳ theo cấu trúc cơ thể của mỗi người. Khoảng cách này tuỳ theo hành giả, sau một thời gian tập, cảm giác khí lực sẽ là yếu tố xác định cho mỗi người biết được khoảng cánh nào là đúng cho mình.
Sau khi đứng thức thứ nhì- thí dụ 5 phút- thì chuyển qua thức thứ ba.
Kéo tay vào sát ngực, lật bàn tay rồi đẩy từ từ ra
Thức thứ tư: Thận kinh
Sau khi đứng tỳ kinh- thí dụ 5 phút- thì chuyển qua thận kinh
Thức thứ 5: Phế kinh
Sau khi đứng thế thứ tư thận kinh- thí dụ 5 phút thì chuyển chậm chậm qua thức thư 5, theo hình vẽ. Nên chú ý sau khi hoàn tất vị thế thì lòng bàn tay hướng qua 2 bên phải trái, chứ không phải hướng vè phía trước. Nhìn hình cuối bên phải (hình nhìn ngang) sẽ rõ hơn.
motgiot
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét